Khu công nghiệp, nhà kho, nhà xưởng

Khó khăn khi phát triển khu công nghiệp ở Hưng Yên

Mỹ phẩm xách tay / Lắp đặt phòng net tại Hoàng Sơn / Máy nóng lạnh kangaroo

Nằm giữa Đồng bằng sông Hồng, lại được khai thác từ lâu đời ở Hưng Yên hầu như không còn thảm thực vật tự nhiên, về giới ttọng vật cũng tương tự như vậy. Các loài chim muông, cầm thú tự nhiên rất ít, ngoài những loài cáo, cò, cuốc, ngỗng trời v.v…cũng khá hiếm.
Nhìn chung, Hưng Yên có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên, Ming tài nguyên khoáng sản lại rất hạn chế. Ngay cả nguyên liệu thông thường như đá vôi cũng phải nhập ở tỉnh ngoài. Đây là một trong những khó khăn trong quá trình phát triển khu công nghiệp của tỉnh.
Động lực dân số
Dân sô của tỉnh Hưng Yên tăng lên khá nhanh. Trước Cách mạng tháng Tám (1945), số dân của tỉnh chỉ có 46.199 người. Năm 1954 tăng lên và đạt hơn 60 vạn người. Năm 1989 Hưng Yên có 95,8 vạn dân và đến ngày 1-4-1999 là 1.068.705 người (trong đó nam giới chiếm gần 48,3%, nữ giới hơn 51,7%). Về số dân, Hưng Yên chiếm 6,35% dân số của Đồng bằng sông Hồng (bao gồm 11 tỉnh, kể cả Bác Ninh và Vĩnh Phúc), đứng trên Bắc Ninh, Ninh Bình, Hà Nam và chiếm 1,4% dân số cả nước.
Tốc độ gia tăng dân số tự nhiên của Hưng Yên trong những năm gần đây giảm xuống đáng kể. Nhờ những biện pháp đồng bộ và tích cực trong công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình, đến năm 1997 Hưng Yên đã hạ tỉ suất sinh thô xuống 19 %0 (giảm gần 0,8 %0 so với năm 1996). Trên cơ sở đó, tỉ suất tăng dân số tự nhiẽn giảm nhanh, từ trên 2% vào những năm 80 xuống còn 1,14% trong thời kì 1989 – 1999 (so với mức bình quân của cả nước là 1,70%).